ĐIỂM TIN CẢNH GIÁC DƯỢC
ĐIỂM TIN CẢNH GIÁC DƯỢC
Bùi Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thu Huyền, Hoàng Hải Linh, Trần Hữu Hoàng Hiệp, Nguyễn Hà Nhi, Nguyễn Ngọc Phương, Nguyễn Phương Chinh, Phan Thùy Linh, Nguyễn Mai Hoa 
Từ khóa:  "điểm tin";"cảnh giác dược"

Nội dung bài

NGUY CƠ RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN ĐẾN FINASTERID: CẢNH BÁO CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM CHÂU ÂU (EMA) VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ MỚI TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM PHÁP (ANSM)

 

Finasterid 1 mg đường uống và finasterid 2,275 mg/ml dung dịch xịt ngoài da được chỉ định điều trị chứng rụng tóc do androgen giai đoạn đầu ở nam giới từ 18 đến 41 tuổi (không chỉ định sử dụng cho phụ nữ). Finasterid 5 mg và dutasterid 0,5 mg được chỉ định để điều trị phì đại tuyến tiền liệt lành tính và dự phòng các rối loạn tiết niệu liên quan. Các thuốc này có nguy cơ gây rối loạn tâm thần và rối loạn chức năng tình dục. Các phản ứng này có thể kéo dài sau khi ngừng thuốc. Trước tín hiệu liên tục về các phản ứng có hại nghiêm trọng trên, tháng 09 năm 2024, ANSM đã đề xuất EMA đánh giá lại cân bằng lợi ích - nguy cơ của các thuốc chứa finasterid và dutasterid. Sau khi tiến hành đánh giá lại, Ủy ban Đánh giá nguy cơ Cảnh giác Dược (PRAC) đã xác định finasterid đường uống (1 mg và 5 mg) có liên quan đến nguy cơ xuất hiện ý định tự sát. Tuy nhiên, PRAC cho rằng lợi ích của các thuốc này vẫn vượt trội so với nguy cơ khi thực hiện tăng cường cung cấp thông tin cho bệnh nhân và nhân viên y tế. Theo đó, cần bổ sung cảnh báo về nguy cơ có ý định tự sát và hướng dẫn xử trí nếu xuất hiện các rối loạn tâm thần hoặc tình dục với thuốc chứa finasterid 1 mg.

Sau kết luận của EMA, ANSM tiếp tục yêu cầu Trung tâm Cảnh giác Dược khu vực vùng Limoges thực hiện đánh giá thêm về các rối loạn tâm thần như trầm cảm, ý định tự tử, tự tử, xuất hiện đơn lẻ hoặc liên quan đến rối loạn tình dục gây ra bởi finasterid sử dụng trong điều trị rụng tóc do androgen. Kết quả cho thấy, Cơ sở dữ liệu Cảnh giác dược quốc gia Pháp (BNBV) ghi nhận 110 báo cáo rối loạn tâm thần đơn lẻ hoặc liên quan đến rối loạn tình dục xảy ra tại Pháp trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1985 đến ngày 31/05/2024. Phần lớn ở bệnh nhân trẻ tuổi (trung bình 30 tuổi) và đã được điều trị bằng finasterid trong thời gian trung bình gần 6 năm; 67,3% báo cáo được phân loại ở mức độ nghiêm trọng, bao gồm 1 ca tử vong do tự sát và 4 ca có hành vi cố gắng tự sát; 29,1% bệnh nhân ghi nhận ảnh hưởng nghiêm trọng của thuốc tới cuộc sống hàng ngày, công việc hoặc các mối quan hệ gia đình. Với 1/2 số báo cáo (56 ca), các rối loạn tâm thần hoặc tình dục không hồi phục tại thời điểm báo cáo, mặc dù bệnh nhân đã ngừng dùng thuốc. Trong số 56 ca, một nửa số bệnh nhân vẫn còn rối loạn sau khoảng 3 năm và 25% sau hơn 8 năm. Rối loạn kéo dài có khả năng vẫn còn tiếp diễn đến hiện tại. Từ sau ngày 31/05/2024, có thêm 2 trường hợp tự tử đã được báo cáo.

Những dữ liệu này cũng cho thấy cân lợi ích - nguy cơ của finasterid 1 mg trong điều trị rụng tóc androgenetic nghiêng về hướng bất lợi. Các biện pháp được đề xuất bởi EMA không đủ để giảm thiểu nguy cơ phát sinh ý định tự sát. Điều này càng đáng lo ngại khi ANSM đã tiến hành truyền thông và theo dõi tác dụng không mong muốn từ năm 2019 nhưng các trường hợp rối loạn tâm thần và rối loạn tình dục nghiêm trọng vẫn tiếp tục được báo cáo, đặc biệt với finasterid 1 mg điều trị rụng tóc do androgen. Do đó, ANSM tăng cường cung cấp thông tin về nguy cơ này đối với finasterid 1 mg điều trị rụng tóc do androgen đến bệnh nhân và nhân viên y tế.

 

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế:

- Theo dõi thay đổi về tâm thần và tình dục ở bệnh nhân điều trị bằng finasterid.
- Ngừng điều trị bằng finasterid nếu bệnh nhân xuất hiện thay đổi về tâm trạng, chán nản, trầm cảm hoặc có ý định tự tử.
- Đánh giá lại bệnh nhân để quyết định có tiếp tục kê đơn finasterid hay không nếu bệnh nhân xuất hiện rối loạn chức năng tình dục. Cần lưu ý các rối loạn chức năng tình dục có thể gây thay đổi tâm trạng, trong đó bao gồm cả ý định tự tử.
- Đánh giá định kỳ có cần tiếp tục điều trị bằng finasterid hay không ở mỗi lần tái khám và kiểm tra khả năng dung nạp của thuốc trên bệnh nhân.
- Đối với dược sĩ, tư vấn bệnh nhân ngừng thuốc và tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bệnh nhân đang điều trị bằng finasterid xuất hiện vấn đề về tâm lý như cảm giác buồn bã, lo âu, mệt mỏi, khó tập trung hoặc rối loạn chức năng tình dục.


Nguồn:  https://ansm.sante.fr/actualites/finasteride-et-risque-didees-suicidaires-nouvelles-mesures

 


 

NHẮC LẠI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ LOÉT KHI SỬ DỤNG NICORANDIL: THÔNG TIN TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM PHÁP (ANSM)


Nicorandil có thể gây loét nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan như da, niêm mạc, mắt. Tình trạng này có thể tiến triển thành các biến chứng nặng như thủng, rò, áp-xe, xuất huyết tiêu hóa. Bệnh nhân cao tuổi, đang sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc và có bệnh túi thừa là đối tượng nguy cơ cao xuất hiện loét liên quan nicorandil. Triệu chứng loét có thể khởi phát ngay vài tuần đầu hoặc sau nhiều năm điều trị bằng nicorandil. Loét do nicorandil không đáp ứng với các phác đồ điều trị thông thường, kể cả khi phẫu thuật. Chỉ khi ngừng nicorandil vết loét mới lành và dần hồi phục trong vài tuần đến vài tháng tùy mức độ nghiêm trọng. Vì vậy, nicorandil cần được ngừng ngay lập tức và không tái sử dụng khi bệnh nhân xuất hiện một hoặc nhiều vết loét, ở bất kỳ vị trí nào trong quá trình sử dụng thuốc. Bác sĩ chuyên khoa tim mạch cần đánh giá lại bệnh nhân để thay đổi thuốc điều trị đau thắt ngực phù hợp.

Sau cảnh báo đầu tiên vào năm 2012, cảnh báo thứ hai vào tháng 11 năm 2015 đã yêu cầu giới hạn chỉ định của nicorandil. Cụ thể, nicorandil không được sử dụng như liệu pháp đầu tay trong điều trị cơn đau thắt ngực và nhấn mạnh lại khuyến cáo ngừng thuốc  ngay khi xuất hiện loét. Trong giai đoạn 2016 - 2017, một nghiên cứu về nguy cơ này đã được tiến hành theo yêu cầu của PRAC. Từ kết quả của nghiên cứu, EMA đã yêu cầu cập nhật thông tin về biến cố loét và bổ sung các cảnh báo và thận trọng khi sử dụng nicorandil trong thông tin sản phẩm của thuốc chứa nicorandil vào năm 2021. Mặc dù đã có các cảnh báo và cập nhật này nhưng những trường hợp loét mới nghiêm trọng vẫn tiếp tục được ghi nhận tại Pháp, bao gồm các báo cáo ca trên những bệnh nhân sử dụng nicorandil không phù hợp như không tuân thủ chống chỉ định hoặc sử dụng đồng thời với các thuốc chống viêm không steroid hoặc corticosteroid hoặc bệnh nhân mắc nhiều bệnh lý như đái tháo đường, ung thư, lạm dụng rượu... Vì vậy, ANSM tiếp tục nhấn mạnh lại chống chỉ định và các tương tác thuốc đặc biệt nên tránh khi sử dụng nicorandil.

Chống chỉ định của nicorandil bao gồm:

- Quá mẫn với nicorandil hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.

- Bệnh nhân sốc (bao gồm sốc tim), hạ huyết áp nặng hoặc rối loạn chức năng tâm thất trái với áp lực đổ đầy thất thấp hoặc suy tim mất bù.

- Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc ức chế phosphodiesterase-5 do có thể dẫn đến hạ huyết áp nghiêm trọng.

- Giảm thể tích tuần hoàn.

- Phù phổi cấp.

- Một số thuốc đặc biệt nên tránh sử dụng đồng thời với nicorandil do tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa bao gồm:

    + Corticosteroid.

   + Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), đặc biệt aspirin ở liều dự phòng bệnh lý tim mạch hoặc liều chống viêm. Cân nhắc thay thế aspirin bằng các thuốc chống kết tập tiểu cầu khác.

 

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế:

 - Ưu tiên kê đơn các nhóm thuốc lựa chọn đầu tay và lựa chọn hàng hai trong điều trị đau thắt ngực ổn định như thuốc chẹn beta, chẹn kênh canxi, nitrat giải phóng kéo dài.

 - Không nên sử dụng nicorandil ở bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh lý mắc kèm do cân bằng lợi ích - nguy cơ của nicorandil ở những bệnh nhân này nghiêng về hướng bất lợi hơn so với lựa chọn khác.

 - Rà soát tương tác thuốc (đặc biệt là NSAID, corticosteroid).

 - Tư vấn bệnh nhân về nguy cơ loét và hướng dẫn bệnh nhân theo dõi nguy cơ này.

 - Ngừng thuốc và không tái sử dụng nicorandil khi bệnh nhân xuất hiện loét.

 

Nguồn: https://ansm.sante.fr/actualites/medicaments-a-base-de-nicorandil-rappel-sur-le-risque-dulcerations-et-limportance-darreter-le-traitement-en-presence-de-signes-evocateur

 


 

CẬP NHẬT VỀ NGUY CƠ RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN THUỐC CHỦ VẬN THỤ THỂ GLP-1: THÔNG TIN TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM AUSTRALIA (TGA)

 

TGA đã tiến hành một cuộc đánh giá cảnh giác dược toàn diện sau khi có thông tin về nguy cơ xuất hiện ý định tự tử hoặc hành vi tự gây thương tích khi sử dụng các thuốc chủ vận thụ thể GLP-1. Mặc dù chưa tìm thấy đầy đủ bằng chứng về mối quan hệ nhân quả, Ủy ban Cố vấn về thuốc của TGA ghi nhận có sự liên quan phức tạp giữa các rối loạn tâm thần và các bệnh lý nội tiết mạn tính điều trị bằng thuốc chủ vận GLP-1, đồng thời, có mối liên quan tiềm ẩn giữa giảm cân và ý định tự sát hoặc tự gây thương tích.

Trong Cơ sở dữ liệu biến cố bất lợi (DAEN) của TGA tính đến ngày 23/09/2025, đối với nhóm thuốc chủ vận thụ thể GLP-1 (semaglutid, liraglutid, dulaglutid và tirzepatid), ghi nhận: 72 báo cáo về ý định tự sát, 6 báo cáo về tự sát do trầm cảm, 4 báo cáo về hành vi tự sát, 2 báo cáo về tự sát và 1 báo cáo về ý định tự gây thương tích. Từ đó, TGA yêu cầu cập nhật thông tin sản phẩm của các thuốc chủ vận GLP-1 về nguy cơ xuất hiện mới hoặc trầm trọng hơn của tình trạng trầm cảm, ý định hoặc hành vi tự sát, hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi.

Khác với quyết định của TGA, Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã yêu cầu loại bỏ cảnh báo này trong mục Cảnh báo và Thận trọng trên thông tin sản phẩm do không nhận thấy sự gia tăng nguy cơ xuất hiện ý định hoặc hành vi tự sát sau khi sử dụng thuốc chủ vận thụ thể GLP-1. EMA cũng cho rằng các bằng chứng hiện tại không ủng hộ mối liên quan giữa việc sử dụng các thuốc chủ vận GLP-1 với một số rối loạn tâm thần trên nên chưa cần cập nhật thông tin sản phẩm của các thuốc này.

 

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế:

 - Theo dõi sự xuất hiện hoặc trầm trọng hơn của tình trạng trầm cảm, ý định hoặc hành vi tự sát, hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi.

 - Cân nhắc lợi ích và nguy cơ đối với từng bệnh nhân trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục điều trị bằng thuốc chủ vận GLP-1 ở những bệnh nhân có suy nghĩ hoặc hành vi tự sát.

 - Nhắc nhở bệnh nhân báo cáo nhân viên y tế nếu xuất hiện mới hoặc trầm trọng hơn tình trạng trầm cảm, có ý định tự sát hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi.

 

Nguồn: https://www.tga.gov.au/news/safety-updates/glp-1-ras-warnings-aligned-over-potential-risk-suicidal-thoughts-or-behaviours

 


 

NGUY CƠ NHIỄM TOAN CHUYỂN HÓA CÓ TĂNG KHOẢNG TRỐNG ANION KHI SỬ DỤNG PARACETAMOL: THÔNG TIN TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM NEW ZEALAND (MEDSAFE) 

 

Nhiễm toan chuyển hóa là một rối loạn cân bằng acid - base đặc trưng bởi pH máu thấp và HCO₃- thấp. Tình trạng này có thể gây đe dọa tính mạng, đặc biệt ở những bệnh nhân mắc kèm các bệnh lý như bệnh thận mạn hoặc suy gan mất bù. Hiện có nhiều phương pháp phân loại nguyên nhân nhiễm toan chuyển hóa, trong đó, phổ biến nhất là dựa trên khoảng trống anion (AG). Khoảng trống anion (AG) được tính toán dựa trên sự cân bằng giữa một số cation (như natri, hoặc kali) và các anion (chlorid, bicarbonat) định lượng được trong máu. Tăng khoảng trống anion thường do sự xuất hiện của của các anion khác không định lượng được trong máu. Nhiễm toan chuyển hóa có AG cao là một dạng nhiễm toan chuyển hóa liên quan đến sự tích lũy acid trong máu và đặc trưng bởi tăng khoảng trống anion, bao gồm: nhiễm toan lactic, nhiễm toan ceton, suy thận và nhiễm độc.

 

Nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa có AG cao do paracetamol

Pyroglutamate (5-oxoprolin) là một chất chuyển hóa góp phần gây tăng AG, cũng có thể là một nguyên nhân gây nhiễm toan chuyển hóa có AG cao. Trong khi đó, quá trình chuyển hóa paracetamol có thể dẫn đến tích lũy pyroglutamate, đặc biệt khi nồng độ glutathion ở mức thấp. 

Nguyên nhân của nhiễm toan chuyển hóa có AG cao do paracetamol xuất phát từ nhiễm toan pyroglutamic. Các biến cố bất lợi này đã được ghi nhận trên những bệnh nhân nặng (suy thận, nhiễm trùng huyết), suy dinh dưỡng hoặc nghiện rượu và đang sử dụng paracetamol dài ngày ở mức liều điều trị. Nguy cơ cao hơn khi bệnh nhân sử dụng đồng thời kháng sinh flucloxacillin. 

Tính đến ngày 30/09/2025, Cơ quan Quản lý Dược phẩm New Zealand (Medsafe) đã ghi nhận 4 trường hợp nhiễm toan chuyển hóa liên quan đến paracetamol. Flucloxacillin là thuốc được sử dụng đồng thời trong 3/4 trường hợp nêu trên. Các biến cố bất lợi được báo cáo bao gồm: nhiễm toan, bất thường khoảng trống anion, nhiễm toan chuyển hóa và/hoặc nhiễm toan pyroglutamic.

Định lượng 5-oxoprolin trong nước tiểu là phương pháp hữu ích để xác định nhiễm toan pyroglutamic ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ. Medsafe khuyến cáo nhân viên y tế ngừng thuốc ngay, theo dõi chặt chẽ bệnh nhân và xử trí theo các hướng dẫn điều trị khi nghi ngờ bệnh nhân xuất hiện nhiễm toan chuyển hóa có AG cao trong quá trình sử dụng
paracetamol.

 

Nguồn: https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles/PDF/Prescriber-Update-46-No.4-December-2025.pdf



 

NGUY CƠ PHÙ MẠCH ĐƯỜNG RUỘT KHI SỬ DỤNG CÁC THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN VÀ THUỐC CHẸN THỤ THỂ ANGIOTENSIN II: THÔNG TIN TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ DƯỢC PHẨM NEW ZEALAND (MEDSAFE)

 

Phù mạch là tình trạng phù nề cục bộ dưới da hoặc dưới niêm mạc do dịch thoát ra khỏi lòng mạch vào các mô kẽ. Bất kỳ mô niêm mạc nào cũng có thể bị ảnh hưởng, tuy nhiên, phù mạch thường gặp nhất ở lưỡi, mặt và đường hô hấp trên. Các thuốc ức chế enzym chuyển (ACEi) gây phù mạch do tích lũy bradykinin. Phù mạch do ACEi hiếm gặp, với tần suất ở khoảng 0,1 - 0,7% bệnh nhân sử dụng nhóm thuốc này. Các ACEi bị chống chỉ định ở bệnh nhân có tiền sử phù mạch khi sử dụng bất kỳ thuốc nào trong nhóm. So với ACEi, nguy cơ phù mạch khi sử dụng thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) thấp hơn. Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ phù mạch do ARB tương tự với các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác như thuốc chẹn beta và với placebo. Đến hiện tại, cơ chế gây phù mạch do ARB hiện vẫn chưa rõ ràng. Mặc dù ARB không chống chỉ định ở những bệnh nhân có tiền sử phù mạch do ACEi, nhưng tỷ lệ tái phát phù mạch vẫn được ghi nhận ở khoảng 1,5% bệnh nhân khi chuyển từ nhóm ACEi sang nhóm ARB. Ngoài ra, thuốc phối hợp sacubitril/valsartan cũng có chống chỉ định ở những bệnh nhân có tiền sử phù mạch liên quan đến ACEi/ARB.

 

Phù mạch đường ruột do ACEi/ARB

Phù mạch cũng có thể xảy ra ở niêm mạc ruột có hoặc không kèm phù ở các vị trí khác. Tuy nhiên, biến cố này thường khó phát hiện và không được báo cáo đầy đủ do biểu hiện lâm sàng không điển hình. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng trên tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn hoặc nôn. Do nhiều bệnh lý khác cũng có triệu chứng tương tự, nên việc chẩn đoán phù mạch đường ruột gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp bệnh nhân đã phải tiến hành một số thủ thuật không cần thiết chỉ để loại trừ nguyên nhân bệnh lý khác. Một số bệnh nhân cho biết các triệu chứng có thể tự cải thiện trong vòng 2 - 3 ngày, ngay cả khi họ không ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ. Tuy nhiên, một số khác lại xuất hiện các triệu chứng của phù mạch đường ruột trong nhiều năm trước khi được chẩn đoán xác định.

Trong giai đoạn từ ngày 1/1/2010 đến 30/9/2025, dữ liệu từ hệ thống Cảnh giác Dược của New Zealand đã ghi nhận 278 trường hợp phù mạch có thuốc nghi ngờ là ACEi, 26 trường hợp phù mạch liên quan đến ARB. Đến thời điểm hiện tại, chưa ghi nhận trường hợp phù mạch đường ruột nào liên quan đến việc sử dụng các thuốc này tại New Zealand.

 

Khuyến cáo nhân viên y tế:

 Cần cân nhắc đến nguy cơ phù mạch tại ruột ở bệnh nhân đang sử dụng thuốc ACEi/ARB có biểu hiện sau:

 - Xuất hiện đau bụng có hoặc không kèm các triệu chứng trên đường tiêu hóa khác.

 - Hình ảnh cắt lớp vi tính hoặc siêu âm bụng/khung chậu cho thấy thành ruột dày, có hoặc không có dịch ổ bụng.

- Nồng độ chất ức chế C1-esterase bình thường.

- Các triệu chứng giảm rõ rệt sau khi ngừng thuốc ACEi/ARB.

 Nếu xác định phù mạch đường ruột, cần ngừng ngay các thuốc nghi ngờ.

 

Nguồn: https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles/PDF/Prescriber-Update-46-No.4-December-2025.pdf

Không hữu dụng  1   2   3   4   5  Rất hữu dụng
: Không hữu dụng  1   2   3   4   5  Rất hữu dụng
:
:
:
:
Gửi bài viết cho bạn bè:
ĐIỂM TIN CẢNH GIÁC DƯỢC
:
:
Địa chỉ email người nhận
:
:
: